Tam Tự Kinh: Đọc sách luận bút (27)

Tam Tự Kinh - tập 27: Quang Vũ hưng, Vi Đông Hán
Tam Tự Kinh – tập 27: Quang Vũ hưng, Vi Đông Hán

Bài 27

Nguyên văn

光武(1)興(2),為(3)東漢(4),
四百年,終(5)於(6)獻(7)。
魏(8)蜀(9)吳(10),爭(11)漢鼎(12),
號(13)三國(14),迄(15)兩晉(16)。

Bính âm

光(guāng)               武(wǔ)                興(xīng),                為(wéi)               東(dōng)               漢(hàn),
四(sì)                       百(bǎi)                年(nián),                终(zhōng)          於(yú)                    獻(xiàn)。
魏(wèi)                    蜀(shǔ)               吳(wú),                  爭(zhēng)          漢(hàn)                  鼎(dǐng),
號(hào)                   三(sān)                國(guó),                迄(qì)                  兩 (liǎng)              晉(jìn)。

Chú âm

光(ㄍㄨㄤ)             武(ㄨˇ)                  興(ㄒ一ㄥ),
為(ㄨㄟˊ)                東(ㄉㄨㄥ)           漢(ㄏㄢˋ),
四(ㄙˋ)                    百(ㄅㄞˇ)              年(ㄋ一ㄢˊ),
終(ㄓㄨㄥ)             於(ㄩˊ)                  獻(ㄒ一ㄢˋ)。
魏(ㄨㄟˋ)                蜀(ㄕㄨˇ)              吳(ㄨˊ),
爭(ㄓㄥ)                 漢(ㄏㄢˋ)              鼎(ㄉ一ㄥˇ),
號(ㄏㄠˋ)                三(ㄙㄢ)               國(ㄍㄨㄛˊ),
迄(ㄑ一ˋ)                兩(ㄌ一ㄤˇ)          晉(ㄐ一ㄣˋ)。

Âm Hán Việt

Quang Vũ hưng, Vi Đông Hán,
Tứ bách niên, Chung ư Hiến.
Ngụy Thục Ngô, Tranh Hán đỉnh,
Hiệu Tam Quốc, Hất Lưỡng Tấn.

Tạm dịch

Quang Vũ phục hưng, kiến lập Đông Hán,
Qua bốn trăm năm, hết thời Hiến Đế.
Nước Ngụy Thục Ngô, tranh đoạt nhà Hán,
Gọi là Tam Quốc, hết thời Lưỡng Tấn.

Từ vựng

(1) Quang Vũ (光武): hiệu của vua, chỉ Quang Vũ Đế Lưu Tú nhà Hán.
(2) hưng (興): phục hưng, chấn hưng.
(3) vi (為): kiến lập.
(4) Đông Hán (東漢): tên triều đại. Từ Quang Vũ Đế đến Hiến Đế lấy Lạc Dương làm thủ đô, bởi vì Lạc Dương là thủ đô của Tây Hán ở phía đông Trường An, lịch sử gọi nhà Hán giai đoạn này là Đông Hán.
(5) chung (終): kết thúc, diệt vong.
(6) vu (於): đến.
(7) Hiến (獻): hiệu của vua, chỉ Lưu Hiệp (Hán Hiến Đế) vị hoàng đế cuối cùng của nhà Hán.
(8) Ngụy (魏): tên triều đại, một nước trong Tam Quốc. Tào Phi cướp ngôi Hán Hiến Đế, thay bỏ nhà Hán xưng đế, quốc hiệu là Ngụy, hợp cùng với nước Thục, nước Ngô gọi là Tam Quốc.
(9) Thục (蜀): tên triều đại, một nước trong Tam Quốc. Lưu Bị kế thừa nhà Hán ở nước Thục, sử gọi là Thục Hán.
(10) Ngô (吳): tên triều đại, một nước trong Tam Quốc do Tôn Quyền kiến lập.
(11) tranh (爭): tranh đoạt.
(12) đỉnh (鼎): cửu đỉnh, là khi Hạ Vũ lấy kim loại của Cửu Châu cống nạp tạo thành đỉnh. Được ba đời Hạ, Thương, Chu tôn sùng làm bảo vật, tượng trưng cho việc chuyển giao thiên hạ của chính quyền quốc gia.
(13) hiệu (號): tên gọi.
(14) Tam Quốc (三國): cuối thời nhà Hán, thời kỳ chia thành 3 nước Ngụy, Thục, Ngô, sử gọi là Tam Quốc.
(15) hất (迄): kết thúc ở, ngưng hẳn ở.
(16) Lưỡng Tấn (兩晉): sử học gọi chung hai thời kỳ Tây Tấn và Đông Tấn của Trung Quốc.

Dịch nghĩa tham khảo

Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú, phục hưng nhà Hán, lật đổ Vương Mãng, kiến lập Đông Hán. Hán triều kéo dài hơn 400 năm, đến Hán Hiến Đế thì diệt vong.

Những năm cuối triều Hán, nước Ngụy, nước Thục, nước Ngô tranh đoạt lẫn nhau thiên hạ của nhà Hán, ba phần thiên hạ này trong lịch sử gọi là thời đại Tam Quốc. Mãi cho đến khi triều Tấn hưng khởi, Tam Quốc bị diệt, mới kết thúc cục diện phân loạn. Và triều Tấn chia làm hai thời kỳ Tây Tấn và Đông Tấn.

Đọc sách luận bút

Ở bài học này, nói từ triều Đông Hán hưng khởi, đến khi nhà Hán mạt sau đó Tam Quốc phân ba phần thiên hạ, kết thúc với triều Tấn. Hạch tâm là thời Tam Quốc. Bất quá, người có hứng thú, có thể nghiên cứu nhà Hán vì sao bị gián đoạn bởi Vương Mãng cướp ngôi, lại lần nữa quật khởi, dẫn đến Hán triều chia làm 2 giai đoạn lịch sử Tây Hán và Đông Hán.

Nhớ rằng ở phần cuối “Tam Quốc diễn nghĩa” có tổng kết như sau: “Ào ào thế sự vô cùng tận, số trời mênh mang biết trốn đâu”. Nói cách khác, cổ nhân cho rằng, lịch sử là Thiên thượng an bài tốt đẹp từng hồi từng hồi. Sử gia đem việc quật khởi của Quang Vũ Đế gọi là “Quang Vũ trung hưng”, thực tế, Tây Hán suy bại cùng Đông Hán quật khởi, đoạn lịch sử này trước sau chính là lại khuyên bảo mọi người một lần nữa, lịch sử giai đoạn này giống như một vở kịch, diễn xuất ra định luật hưng suy vĩnh cửu bất biến.

Những năm cuối Tây Hán, vì làm vua hồ đồ, trầm mê hưởng lạc, quan lại mục nát, chính trị hắc ám, dân chúng oán thán sôi trào. Để Vương Mãng thừa cơ lợi dụng. Mà Quang Vũ Đế, đúng lúc hấp thụ giáo huấn, lấy nhân đức mà xưng danh với đời, tuyển hiền tài có năng lực đảm nhiệm, quý trọng nhân sĩ, khiêm hòa công bằng, mở lòng tiếp nạp can gián, lấy đức báo oán, thiện đãi với quân đội và gia quyến của các dòng tộc đế vương có tư thù để họ làm lại từ đầu. Vì quý trọng nhân mệnh, chú trọng tôn sùng nhân đức Nho học, từ đó mà giành được lòng dân và phục hưng Đông Hán.

Đến những năm cuối thời Đông Hán, Tam Quốc phân trị thiên hạ, lại trình diễn một giai đoạn bề mặt nhìn giống như là triển hiện ra trí tuệ binh pháp thần kỳ của Gia Cát Lượng cùng đấu trí đấu dũng với các nước. Kỳ thật không phải.

Trong lịch sử có một dự ngôn nổi tiếng, gọi là “Mã Tiền Khóa”, miêu tả chuẩn xác các việc lớn trong lịch sử từ thời Tam Quốc cho đến ngày nay, tác giả của nó chính là Gia Cát Lượng. Tại sao ông có loại trí tuệ này? Văn hóa cổ đại Trung Quốc là văn hóa bán Thần, rất nhiều người bằng lòng với số mệnh, không quan tâm hơn thua. Họ biết sâu sắc rằng lịch sử tự có an bài và quy luật phát triển của nó. Kỳ thật, người tu luyện đều hiểu rằng loại trí tuệ này kỳ thật vượt xa khỏi tầng thứ con người, đạt đến cảnh giới “Không ra khỏi nhà, biết chuyện thiên hạ” mà Lão Tử nói đến trong “Đạo Đức Kinh”. Chuyện này nghĩa là Gia Cát Lượng biết rõ an bài lịch sử, ông ta giúp Lưu Bị, là tuân theo thiên ý mà làm. Người đời sau không hiểu sự lựa chọn của ông, là vì không nhìn vấn đề từ góc độ vĩ mô được thiên ý an bài, từ cách nhìn nhận lịch sử của cổ nhân.

Sách “Tam Quốc Diễn Nghĩa” đã đưa ra câu trả lời rõ ràng nhất về mục đích an bài giai đoạn lịch sử này. Tam Quốc phân quyền, hạch tâm nằm ở chỗ làm sao Lưu Bị có thể lấy yếu thắng mạnh, nêu bật sự nhân đức và đạo nghĩa của ông có sức mạnh cực đại, cho nên tác giả đã giải thích sự độc đáo của lịch sử, lối suy nghĩ to lớn của bộ lịch sử này, đem ý nghĩa chính của giai đoạn lịch sử này, xác định điểm mấu chốt là vì nhân loại mà diễn xuất ra ý nghĩa nội hàm, cho nên gọi là Tam Quốc Diễn Nghĩa. Đạo nhân nghĩa, có thể khiến thiên hạ quy hướng, nhân tài hội tụ, hơn nữa cũng đồng thời có thể triển hiện ra tài năng quân sự thần kỳ ‘lấy yếu thắng mạnh’ của Gia Cát Lượng. Như vậy, Gia Cát Lượng vì sao giúp Lưu Bị đánh đoạt thiên hạ vậy?

Gia Cát Lượng trong “Tiền Xuất Sư Biểu” có nói: Ta vốn là bách tính bình dân, làm nông ở Nam Dương Long, vì để bảo toàn tính mệnh trong thời loạn thế, tuyệt không có ý truy cầu vinh hiển danh dự. Tiên đế không chê ta xuất thân thấp hèn đê tiện, ngược lại hạ mình, liên tiếp ba lần đến nhà tranh bái phỏng, hỏi ý kiến ta về việc thiên hạ đại sự, bởi vậy ta phi thường cảm tạ, ngay đó ta liền đáp ứng vì tiên đế bôn ba mà dốc sức. Thành ngữ “Tam cố mao lư” (ba lần đến lều tranh) là từ diễn biến này mà ra.

Nói cách khác ông biết rõ an bài lịch sử, là vì để Lưu Bị nhất định có được bậc kỳ tài, lưu lại một đoạn kỳ tích huy hoàng, để người đời sau ghi sâu trong lòng xem trọng bài học về nhân đức đạo nghĩa. Thế là thuận theo thiên ý, đi theo vị chủ nhân nhân nghĩa, nghiêm túc diễn tốt vai trò của mình: Trợ giúp nhân quân (vua có đức nhân), cảm niệm ân tri ngộ, trung thành hầu hạ, khai sáng kỳ tích, đồng thời triển hiện ra trí tuệ binh pháp của văn hóa Thần truyền.

Không kém phần, Lưu Bị tuy là huyết mạch chính thống của hoàng tộc nhà Hán, lập danh nhân đức, nhưng không tiền không thế, ngay cả chỗ đặt chân cũng không có, lại để cho ông diễn bày ra vở kịch đặc sắc một mình lấy nhân đức mà giành được thiên hạ, để ông thu được danh tướng và quân sư tốt nhất, tạo ra kỳ tích tay không mà lập nên chính quyền một phương.

Câu chuyện “Ba đại chiến dịch lấy yếu thắng mạnh”

Trận Quan Độ, trận Xích Bích, trận Hao Đình là ba trận chiến nổi tiếng thời Tam Quốc, kết quả đều đã lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, kịch tính sâu xa, chỗ ảo diệu của nó khiến mọi người phải suy nghĩ.

Lịch sử có thật nhiều chuyện phát sinh đều mang kịch tính, mà lại không thể tưởng tượng được. Chúng ta trước tiên nhìn lại trận Quan Độ, Viên Thiệu 70 vạn nhân mã đối chiến với Tào Tháo 7 vạn nhân mã, mà lương thảo bên Tào Tháo lại không tốt, mắt thấy có nguy hiểm toàn quân bị diệt, đúng lúc này, Tào Tháo dùng kế đốt lương thảo ở Ô Sào, đánh bại Viên Thiệu. Về sau thế lực Tào Tháo không thể đỡ, muốn thống nhất cả thiên hạ.

Nhìn lại trận Xích Bích, Tào Tháo nắm giữ 83 vạn hùng binh, mà liên quân Tôn Lưu chỉ có mấy vạn nhân mã, mắt thấy Tào Tháo sắp thống nhất thiên hạ, nhưng chỉ một trận hỏa công làm hắn thất bại trầm trọng, suýt nữa mất mạng. Và trận Hao Đình, Lưu Bị thống lĩnh hơn 70 vạn binh, mà Tôn Quyền chỉ có mấy vạn nhân mã, ngay tại Đông Ngô vào thời khắc ngọc nát đá tan, Lục Tốn hỏa thiêu liên doanh 700 dặm, khiến Lưu Bị thua chạy về Bạch Đế Thành. Mỗi một lần hoàn cảnh đều là nghìn cân treo sợi tóc, ở tình huống lui không thể lui, phát sinh một chuyện cực kỳ không thể nào phát sinh, cũng để lịch sử chuyển hướng tại chỗ đó.

Đây là bởi thiên ý như vậy, nhất định phải đạt tới cục diện thế chân vạc Tam Quốc, không để cho một quốc gia chưa đến thời gian mà Thần an bài lại bị hủy diệt, đồng thời cũng dạy cho con người đạo lý “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” (trù tính công việc là do con người quyết định, song sự việc thành công hay không là do Trời quyết định). Đúng như 4 câu cuối cùng trong phần kết của “Tam Quốc” ghi rằng:

“Phân phân thế sự vô cùng tẫn,
Thiên số mang mang bất khả đào,
Đỉnh túc tam phân dĩ thành mộng,
Hậu nhân bằng điếu không lao tao”

Tạm dịch:

Ào ào thế sự vô cùng tận,
Số trời mênh mang biết trốn đâu,
Chân vạc phân ba nay thành mộng,
Người sau tưởng niệm chớ tức sầu.

Bốn câu thơ này phải nói là vẽ rồng điểm mắt cho “Tam Quốc Diễn Nghĩa”. Vô luận là Tào Tháo, Lưu Bị hay là Tôn Quyền, văn thần võ tướng thủ hạ của họ trên bề mặt là đấu trí đấu dũng, chẳng qua là để phù hợp với lý lẽ của con người mà biểu hiện ra cho con người xem, kỳ thực là Thần an bài xuống một loại cân bằng, đạt được thế chân vạc về quân sự giữa 3 nước mà lập ra thôi.

Sau khi lưu lại giai đoạn bày diễn ra ý nghĩa văn hóa, các vị vua Tam Quốc lui khỏi vũ đài, lịch sử chuyển giao đến thời đại Lưỡng Tấn.

Tác giả: Lưu Như

Nguồn ChanhKien.Org

Xem Tam Tự Kinh Tập 28: Lương Vũ Đế

Video tham khảo: Ba lần đến lều tranh

Tam Tự Kinh - Tập 28 - Ba lần đến lều tranh
Video Tam Tự Kinh – Ba lần đến lều trang (Nguồn Chánh Kiến)

Minh Chân Tướng là trang cung cấp những bài viết về Văn hóa Truyền thống, quý đọc giả sẽ tìm thấy bài viết hữu ích nhằm khơi gợi những quy phạm, tiêu chuẩn Đạo đức, Văn hóa chính thống cũng như toàn bộ nền Văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm lịch sử.

Minh Chân Tướng sử dụng nguyên tắc Chân Thành và Thiện Lương làm kim chỉ nam trong suốt hành trình của mình. Chúng tôi chú trọng tính nhân văn, những bài học lịch sử và văn hóa truyền thống nhằm mang lại những giá trị tốt đẹp nhất cho mỗi người, mỗi nhà và cho xã hội.

Minh Chân Tướng là kênh thông tin phi lợi nhuận, chúng tôi cam kết không quảng cáo (từng bài viết quý vị đọc trên Minh Chân Tướng sẽ không bao giờ hiển thị bất kỳ một quảng cáo nào).

Cảm ơn Quí độc giả đã thường xuyên theo dõi và ghé thăm Minh Chân Tướng!


Email: [email protected] đã sẵn sàng nhận những phản hồi từ bạn!

0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
0
Bình luậnx
()
x