Thiên Tự Văn (12): Võng đàm bỉ đoản

12 thien tu van

Nguyên văn:

罔談彼短(1)     靡恃己長(2)     信使可覆(3)     器欲難量(4)

Bính âm:

罔 (wǎng)         談 (tán)             彼 (bǐ)               短 (duǎn)
靡 (mí)              恃 (shì)              己 (jǐ)                長 (cháng)
信 (xìn)             使 (shǐ)              可 (kě)              覆 (fù)
器 (qì)               欲 (yù)               難 (nán)            量 (liáng)

Chú âm:

罔 (ㄨㄤˇ)         談 (ㄊㄢˊ)        彼 (ㄅ一ˇ)          短 (ㄉㄨㄢˇ)
靡 (ㄇ一ˇ)         恃 (ㄕˋ)            己 (ㄐ一ˇ)          長 (ㄔㄤˊ)
信 (ㄒ一ㄣˋ)      使 (ㄕˇ)           可 (ㄎㄜˇ)          覆 (ㄈㄨˋ)
器 (ㄑ一ˋ)          欲 (ㄩˋ)           難 (ㄋㄢˊ)           量 (ㄌ一ㄤˊ)

Âm Hán Việt:

Võng đàm bỉ đoản,
Mị thị kỷ trường.
Tín sử khả phúc,
Khí dục nan lượng.

Giải thích:

1. Nghĩa của chữ:

Võng (罔): không được, không nên, chớ, đừng.
Đàm (談): đàm luận, bàn tán.
Bỉ (彼): người khác, kẻ khác, người ta.
Đoản (短): sở đoản, chỗ yếu, điểm yếu, khuyết điểm.
Mị (靡): không được, không nên, chớ, đừng.
Thị (恃): cậy, ỷ vào.
Kỷ (己): bản thân.
Trường (長): sở trường, chỗ mạnh, điểm mạnh, ưu điểm.
Tín (信): thành thật không lừa gạt, giữ uy tín.
Sử (使): khiến, làm cho.
Khả (可): có thể, có khả năng.
Phúc (覆): nghiệm chứng, kiểm nghiệm.
Khí (器): chỉ lòng dạ, phong thái, khí phách, khí độ của một người.
Dục (欲): nên phải.
Nan (難): khó khăn.
Lượng (量): đo, đo lường.

2. Nghĩa của từ:

(1) Võng đàm bỉ đoản (罔談彼短): Không nên bàn tán về khuyết điểm của người khác.
(2) Mị thị kỷ trường (靡恃己長): Đừng khoe khoang ưu điểm của mình.
(3) Tín sử khả phúc (信使可覆): Lời nói phải có uy tín, nhất định phải nói được làm được, kinh qua được kiểm nghiệm.
(4) Khí dục nan lượng (器欲難量): tấm lòng của một người nên rộng lớn, lớn đến độ người khác khó có thể đo lường.

Lời dịch tham khảo:

Không nên bàn tán về khuyết điểm của người khác, càng không nên khoe khoang ưu điểm của bản thân.

Đối với những lời mà bản thân đã nói ra hoặc hứa hẹn, nhất định phải nói được làm được, và trải qua kiểm nghiệm. Hơn nữa tấm lòng và khí độ cũng nên rộng lớn, lớn đến mức người khác khó có thể đo lường.

Câu chuyện văn tự:

Trường 長: chữ này trong Giáp cốt văn có hai cách viết là “”, “”, nhìn như là một người có mái tóc rất dài, nghĩa mở rộng là trường cửu (lâu dài). Chữ Kim văn viết là “”, thoạt nhìn giống như hạt giống từ trong đất nảy mầm lên, cho nên chữ này có nghĩa là sinh trưởng. Chữ Tiểu triện viết là “”, chữ này có ý là xa xưa, lâu đời.

Tín 信: Kim văn viết là “ ”, chữ Tiểu triện viết là “”. Tín là một chữ “Nhân” 人 đặt cạnh một chữ “Ngôn” 言, nghĩa gốc chính là ‘nhân ngôn vi tín’ (lời mà người nói ra là phải đáng tin); nghĩa rộng là chỉ sự thành thực, ý nói rằng lời người nói ra nhất định phải là sự thực, không lừa dối bản thân và cũng không dối gạt người khác, vậy mới có thể làm người khác tin tưởng bạn.

Khí 器: Kim văn có hai cách viết là “”, “”, chữ Tiểu triện viết là “”, nghĩa gốc là mãnh 皿 (đồ đựng). Khí là một chữ “Khuyển” 犬 (con chó) cộng thêm bốn chữ “Khẩu” 口 (miệng), bởi vì những thứ để đựng đồ vật đều để hở miệng, bốn cái miệng nghĩa là có rất nhiều thứ có thể dùng để chứa đựng như vậy, mà con chó là loài động vật rất giỏi giúp người trông coi canh giữ, cho nên đồ dùng của con người cũng phải để cho chó trông giữ.

Suy ngẫm và thảo luận:

Phú Bật, một bề tôi nổi tiếng của nhà Tống, vì có lòng độ lượng mà được mọi người kính trọng. Khi ông còn trẻ, có người mắng chửi ông trước đám đông, nhưng ông làm ngơ, coi như không nghe thấy. Người bên cạnh nói với ông: “Người kia đang mắng chửi anh đấy!”. Phú Bật đáp: “Chắc là anh ta đang mắng chửi người khác!”. Người bên cạnh lại nói: “Nhưng hắn kêu tên anh, lẽ nào là mắng chửi người khác?”. Phú Bật nói: “Vậy có thể anh ta đang mắng chửi người trùng tên trùng họ với tôi thôi!”. Kẻ mắng chửi nghe vậy liền cảm thấy rất xấu hổ.

Phú Bật thường răn dạy các em và con cháu rằng: Chữ “‘Nhẫn’ 忍 có thể giải quyết được rất nhiều chuyện. Nếu có được các phẩm đức như thanh liêm, chất phác, thiện lương, v.v. lại có thêm một chữ ‘Nhẫn’ thì có việc gì mà không làm tốt đây?”. Một người có thể lấy thái độ khoan dung mà đối đãi người khác, đó không những là biểu hiện của người có tu dưỡng, đồng thời còn là biểu hiện về tâm tính cao thấp. Bởi vậy, từ xưa đến nay, những người hiền đức, khoan dung luôn được tôn kính.

  1. Trong đời sống hàng ngày, bạn có từng trải qua tình huống tương tự như câu chuyện trên không? Bạn đã đối mặt thế nào?
  2. Theo bạn, thế nào là “khoan dung”? Khi người khác cư xử không tốt, chúng ta cần làm gì để thực sự được gọi là khoan dung?

Nguồn: https://chanhkien.org/2023/10/tai-lieu-giang-day-van-hoa-so-cap-thien-tu-van-12.html


Mời quý độc giả ghé thăm trang Chánh Kiến để cập nhật thêm nhiều bài viết hữu ích hơn.

Minh Chân Tướng là trang cung cấp những bài viết về Văn hóa Truyền thống, quý đọc giả sẽ tìm thấy bài viết hữu ích nhằm khơi gợi những quy phạm, tiêu chuẩn Đạo đức, Văn hóa chính thống cũng như toàn bộ nền Văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm lịch sử.

Minh Chân Tướng sử dụng nguyên tắc Chân Thành và Thiện Lương làm kim chỉ nam trong suốt hành trình của mình. Chúng tôi chú trọng tính nhân văn, những bài học lịch sử và văn hóa truyền thống nhằm mang lại những giá trị tốt đẹp nhất cho mỗi người, mỗi nhà và cho xã hội.

Minh Chân Tướng là kênh thông tin phi lợi nhuận, chúng tôi cam kết không quảng cáo (từng bài viết quý vị đọc trên Minh Chân Tướng sẽ không bao giờ hiển thị bất kỳ một quảng cáo nào).

Cảm ơn Quí độc giả đã thường xuyên theo dõi và ghé thăm Minh Chân Tướng!


Email: [email protected] đã sẵn sàng nhận những phản hồi từ bạn!

0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
0
Bình luậnx
()
x